Đó là câu thơ của nhà thơ Vũ Quốc Ái nhưng tôi “nhặt” được nó trong một bài viết của nhà văn Đặng Hồng Nam, một ẩm thực gia của thành Nam quê tôi. Ông nhà văn đã thốt lên câu cảm thán: “Chỉ một câu thơ mà gợi lại kỷ niệm của bao mùa xuân đã qua. Không biết làm sao mà cái cây rau cần nó hợp với mùa xuân đến thế. Rau cần bắt đầu có từ tháng Chín ta nhưng lúc đó ăn chưa ngon, phải qua những ngày rét đậm, rét ngọt cây rau cần mới trắng, mới mềm, mới ngọt. Qua cái rét của hai tháng Một, Chạp, cây rau cần vừa ngon vào mùa xuân. Sang tháng Hai, Ba có mưa rào, trứng cóc nở đầy ruộng rau, rau ăn cứng quèo, nhạt thếch”.
Tôi không phải là gái quê nhưng tuổi thơ của tôi cũng đầy ắp những kỷ niệm với rau cần, rau muống bè, với bèo tấm, bèo cái hoa dâu... Nhà tôi thuộc thành phần công nhân viên chức, sống ở ngoại ô. Những năm đầu của tuổi teen, nửa ngày đi học, nửa ngày còn lại của tôi gắn với những bờ ao, góc ruộng vớt bèo, kiếm rau nuôi lợn. Tôi nhớ, những ruộng rau cần thường có thời hạn ngắn nhất so với các rau màu khác trong năm. Trồng được ruộng rau cần ngon, ngoài yếu tố thời tiết thuận lợi còn cần không ít công chăm bón. Ruộng rau cần bao giờ cũng sạch và đẹp mắt. Những hàng rau xanh mướt, đều tăm tắp như ruộng lúa thì con gái, nổi bật trên mặt ruộng đỏ sậm màu phù sa. Cọng rau cần trắng lốp, ngâm trong làn nước trong veo, như càng tôn thêm cái vẻ trắng ngần quí phái. Lớp này nhổ lên, lớp khác gieo xuống không có thời gian cho bất kỳ loại cỏ nào được phép chen vào.
Ngày đó tôi ít khi được tham gia giúp các bà, các chị nhổ rau cần nhưng tôi vẫn nhớ như in niềm vui lây của ngày thu hoạch. Chúng tôi thường chầu chực người ta thu hoạch xong mót những cây rau quá lứa, già thâm sì, ngắn ngủn về cho mẹ muối với bắp cải, rau răm. Với ký ức của “con nhà nghèo” như tôi, rau cần là một trong những loại rau xa xỉ, ngang với súp lơ. Thực đơn thường nhật của các gia đình chúng tôi hồi ấy chủ yếu là rau muống, rau đay mồng tơi... cho mùa hè, cải thìa, su hào, cải bắp cho mùa đông. Chỉ khi nào nhà có khách, có giỗ chạp mới ăn rau cần. Không phải rau cần quá đắt so với các loại rau bình dân khác, khi xào lại rất ngót... mà còn vì khi đã mua rau cần là phải nghĩ đến xào thịt trâu, thịt bò hoặc nấu với cá quả. Nói cách khác, nếu bữa ăn tươi có món thịt bò, thịt trâu thì không thể không mua rau cần (mẹ tôi xuất thân nông dân, không hợp khẩu vị với mấy món hành tây, cần tây, tỏi tây...) Cũng đôi khi, để cho đỡ nhớ hương vị, mẹ tôi mua ít rau cần về cải biên nấu với khoai tây, thành món canh sền sệt, ngậy ngậy, thơm thơm khá thú vị.
Chính vì thế, ngày tết dù khó khăn hay no đủ cũng không thể thiếu việc “trữ” sẵn chục nắm rau cần, dăm củ su hào ăn dần trong mấy ngày Tết (vì thường từ mùng 3 chợ mới họp và khi đó rau đắt gấp 3 gấp 5 ngày thường, vừa ăn vừa xót ruột!)
Người Nam Định chúng tôi bao đời nay luôn tự hào “ăn” hơn thiên hạ một cái Tết, ấy là hội xuân chợ Viềng mùng 8 tháng Giêng. Người ta bảo Nam Định có hơn 4 cái chợ Viềng nhưng chợ để khoe với thiên hạ, hút khách thập phương về với thành Nam chỉ có chợ Viềng phủ Dày. Chả cứ người tứ xứ, người thành Nam vào ngày này kể cả các công sở cũng vắng quá nửa. Người ta đến chợ Viềng đầu năm là để lễ bà chúa Liễu phủ Dày Tiên Cát Vân Hương, sau nữa là mua thịt bò, thịt bê về ăn thêm cái Tết. Chỉ sau ngày đó, cái Tết của ẩm thực mới chính thức khép lại. Nhà văn Đặng Hồng Nam dường như hơi “bạo bút” khi viết rằng “người ta sợ lúc rau cần kém ngon đi hay sao ấy nên cứ mùng Tám tháng Giêng đã phải mở hội chợ Viềng để mọi người cùng mua thịt bò, thịt trâu về ăn rau cần”. Tôi cũng khẳng định cả năm dẫu có tiền cũng không thể có bữa thịt bò nào ngon hơn bữa thịt mua tại phiên chợ Viềng. Con bò xả thịt tươi rói, chỉ một loáng đã hết, làm sao không thơm, không mềm, không ngọt? Ăn sốt vang, ăn lẩu, ăn bít-tết đều phí, chỉ nên xào rau cần nóng hổi hoặc nhúng dấm chấm nước mắm gừng tỏi và ớt tươi là đủ tứa hết nước miếng.
Đấy là món cần xào, còn đã là nấu canh thì “chúa” nhất chỉ có nấu cá quả, loại cá ta, con chừng 3 - 4 lạng. Thịt cá lọc tươi, xào hành mỡ, xương ninh nhừ lấy nước dùng, đầu băm nhỏ với chút ớt tươi, viên lại rán qua cho khỏi vỡ, thả vào nồi canh đun kỹ ăn vừa đậm đà, vừa thơm mà thanh tao. Ông Đặng Hồng Nam thì đoán rằng vị ngọt dìu dịu của bát canh rau cần giống với tiết trời mùa xuân, bâng khuâng và thoáng đãng. Có lẽ vì thế nên ông nhà thơ đậm đặc chất đồng bằng Bắc bộ mới ví chẳng giống ai: “Chiều xuân như thể bát canh cần”.
Viết đến đây, tôi chợt nao nao nhớ lại câu ca dao quen thuộc ngày xưa mẹ hay hát ru chị em tôi:
“Con gái mà lấy chồng gần
Có bát canh cần nó cũng đem cho”.
Đó không chỉ là bài hát mà là mong ước, sở thích gửi gắm cả một đời nhọc nhằn của bố mẹ tôi. Bố tôi đã về với đất 7 năm nhưng ngày giỗ Tết năm nào trên mâm cơm cúng bố cũng không thể vắng bát canh cần. Ngày tôi sắp lấy chồng, trên mâm cơm gia đình tiếp nhà trai buổi viếng thăm đầu tiên cũng có món canh cá quả rau cần mà đến giờ bố chồng tôi vẫn thích. Mới hay trong mỗi món ăn đều mang hương vị của trời đất, ăn là một cuộc giao hoà của con người với trời đất mà hơn thế còn là mối giao hoà giữa con người với con người, mối giao hoà gần gũi như máu thịt.
(Huệ Anh - Theo http://www.baoxaydung.vn)