Biệt danh “rái cá” luôn là điều mà bọn con nít xóm chòi ngày ấy tự hào và ao ước. Nó như phần thưởng cao quý tôn vinh những kẻ “kình ngư” giỏi tài lặn hụp. Cuộc sống của bọn trẻ ven sông như chúng tôi gắn liền với những mẻ cá, những hôm quăng câu, chài lưới, gắn liền với những buổi mò ốc, xúc hến. Bởi thế cho nên có mấy đứa lớn lên ở cái xóm này mà không biết bơi, biết lặn? Đó vừa là thú vui trẻ con, vừa là cách để mưu sinh.
Tôi cũng sinh ra và lớn lên ở nơi ấy, tôi cũng biết bơi, biết lặn nhưng chưa bao giờ nghĩ mình sẽ là một con rái cá hay đúng hơn chẳng bao giờ tôi mơ ước tới. Nghĩ cũng lạ, cùng là lũ nhóc chơi chung với nhau nhưng bao giờ cái khoản bơi lội tôi cũng tệ hại. Có đứa bốn năm tuổi đầu đã lội như rươi, lặn hụp thì không ai bằng. Tôi có cố cũng không cách nào học nhanh hơn được. Thế là chúng nó lại bày nhau bắt chuồn chuồn trâu cho cắn rốn để tôi mau biết bơi. Cái con chuồn chuồn to kềnh, đen xanh đen xám cứ nhằn răng mà gặm lấy rốn tôi ra chiều thích thú lắm. Ban đầu không có cảm giác đau, chỉ nhột và ngứa nhưng dần dần, cắn mãi thành sẹo nên đau không thể tả. Rồi tôi cũng biết bơi nhưng luôn bị liệt vào hàng “út ét” và được canh chừng gắt gao bởi bọn nó sợ tôi đuối. Nói chung, tôi không thích cái trò này lắm mặc dù ở quê đứa nào cũng tự hào xem đó là trò giải trí mà bọn nhóc thành thị vốn rất thèm thuồng.

Sáng sáng, tôi lại xách xô theo ba đi giở vó. Vó được làm rất to, đặt ngang qua con kênh lớn nước chảy xiết. Để nhấc được cái thứ nặng kềnh đó, ba tôi phải leo lên đứng trên chiếc đòn ngang, một phần cột chặt đầu vó, phần gác lên bờ đạp mạnh để nó từ từ trồi lên khỏi mặt nước. Vó to nhưng đôi khi chỉ bắt được toàn cá nhỏ, lòng tong, bống dừa, bống cát đủ cả. Đặt vó vào mùa con nước thì mới thích. Có lúc vào mùa tép bạc, khi những cơn gió chướng thổi hây hây, tôi lại có dịp bê cả xô đầy những con tép cong óng cùng mẹ mang ra chợ bán. Tuy là của trời, của đất nhưng thứ này lúc ấy cũng không rẻ rúng gì. Tép bạc sông luôn là thứ hàng ngon mà nhiều bà, nhiều chị tìm mua về để làm mắm. Tép không quá to, vỏ lại mỏng, ăn ngọt lìm lịm. Năm nào gần Tết, mẹ cũng xúc tép làm mắm cả thạp, phần ăn, phần bán, phần biếu bà con. Món mắm tép trộn đu đủ ăn kèm thịt ba rọi luộc thì ngon phải biết.
Cái thời cá nước chim trời người ta sống sao cứ thanh thản. Tôi không thấy nhà mình giàu có gì nhưng chẳng bao giờ phải lo cái khoản ăn. Chỉ vài ba mẻ lưới, một cái chày, cùng với mấy chiếc vó cũng có “cá ăn cá để”. Sống thế nên người miền Tây đâm ra chẳng bao giờ biết lo. Lúc nhỏ, bọn con nít chúng tôi cũng chẳng có thời gian đâu mà lo mà nghĩ. Ngày ngày cứ phụ ba mẹ đi chày, đi câu, giăng lưới. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng hay tụ họp nhau đi mò hến. Có lẽ lúc ấy tôm cá người ta còn chê nên cái thứ hến xúc cả thúng cũng chẳng ăn được bao nhiêu này không ai đếm xỉa tới. Nếu có cũng chỉ là cái cớ bọn trẻ con bày ra để đi lặn mà không bị ba mẹ la rầy. Thường thường, khi nước ròng, đi cập các bãi bồi ven mé sông mới có thể xúc hến dễ dàng. Hến lúc ấy nhiều không thể tả, lội mà cứ thấy nham nhám ở chân, lấy rổ quơ ba sồn ba sựt cũng được hơn nửa. Chúng tôi thích nhất là cào được mấy con móng tay bởi trông nó thật to và dài trong cái mớ hến lí tí kia. Cào mãi nhiều quá cũng đâm ra say, đến khi chiều về, đứa nào cũng bê lê bê lết cả thúng hơn. Xong đâu đấy, chờ lúc nước lên, bọn nhóc lại ù nhau bơi cho thỏa thích. Lúc này, bọn chúng tranh nhau danh hiệu rái cá, tôi chỉ có nhiệm vụ làm trọng tài đứng thổi còi. Chiếc còi bé tẹo làm bằng lá dừa kêu tí toe nghe mà vui tai. Nhưng có tranh tài mãi bọn tôi cũng nhất trí trao vinh dự ấy cho thằng Cu Tửng vì vốn không ai qua được nó, đi thi thố với bọn con nít xóm bên cạnh, lần nào nó cũng giành được rổ trái cây về chia cho cả lũ.
Chiều tầm, những chiếc bóng xiêu vẹo đổ lếch thếch trên các con đường chạy cập bờ sông, tản nhau ai về nhà nấy mang theo chiến lợi phẩm là những phần hến xúc được. Lúc đầu, ba mẹ tôi còn rầy la nhưng thấy hến xúc được cũng nhiều nên mặc kệ. Những lúc ấy, tôi năn nỉ mẹ làm món hến kho sả. Mẹ bảo: “Cái thứ bé ti đó chỉ cho vịt ăn thôi”. Tôi nằng nặc không chịu, thế là mẹ cũng chiều. Hến được luộc trước cho đến khi thịt hến tách ra khỏi vỏ, nổi lềnh bềnh trên mặt là có thể vớt ra được. Một đống hến mà chỉ lấy được 1 tô thịt lưng lưng. Bữa cơm chiều hôm ấy mặn mòi hơn hẳn vì có phần hến kho sả. Ba cứ nói đùa: “Cứ như cọp ăn muỗi ấy”. Tôi vẫn không màng, cười hí hửng vì thứ này ăn cũng hay ra trò. Rồi tôi còn bắt mẹ chế ra đủ thứ món nào, là hến chiên bánh xèo, hến nấu canh, hến xào… Lúc ấy may mà tôi chưa biết món cơm hến, cháo hến hay hến xúc bánh tráng của người miền Trung, không thì chắc mẹ cũng phải làm thứ ấy cho tôi ăn.
Bây giờ, tôi không còn phải vất vả hụp lặn ở sông để xúc những mẻ hến mới có mà ăn, nhưng hình như cái gì gắn với tuổi thơ luôn đẹp và tinh nguyên thì phải!
"Biệt danh “rái cá” luôn là điều mà bọn con nít xóm chòi ngày ấy tự hào và ao ước. Nó như phần thưởng cao quý tôn vinh những kẻ “kình ngư” giỏi tài lặn hụp".
Bài: Vương Minh
(Theo monngonvietnam.com)